BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Áp dụng phương pháp dạy học tích cực để rèn kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Toán lớp 3
3.Tác giả:
Họ và tên: Đỗ Thị Lễ
Ngày sinh: 05/06/1996
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Cộng Hiền
Điện thoại DĐ: 0943 069 096
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Cộng Hiền
Địa chỉ: Thôn Hạ Am – xã Vĩnh Hải- Thành phố Hải Phòng.
II. Mô tả giải pháp đã biết:
Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa đối chiếu với việc giảng dạy trên lớp thông qua dự giờ, thao giảng, xem bài soạn của giáo viên, thăm dò ý kiến của giáo viên về việc giảng dạy nội dung dạy học Toán trong thời gian qua tôi rút ra được một số nhận xét sau:
* Ưu điểm của giải pháp đang áp dụng:
+ Việc dạy của giáo viên:
- Giáo viên nắm vững nội dung và phương pháp dạy học. Bên cạnh đó, nội dung dạy học phép nhân của sách Toán 3 tương đối đơn giản, trọng tâm.
- Mặt khác, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục Thành phố Hải Phòng rất quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên. Do vậy, mỗi giáo viên đã nhận thức được tinh thần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán.
- Trong giờ học, khi truyền đạt nội dung mới của bài, giáo viên đã biết kết hợp nhiều phương pháp truyền thống với các phương pháp dạy học hiện đại để dẫn học sinh tới kiến thức cần đạt được. Khi củng cố rèn luyện các kỹ năng, kiến thức của giờ học, giáo viên đã đầu tư, suy nghĩ hình thức củng cố bài học.
- Về công tác kiểm tra, đánh giá, giáo viên đã có sự kết hợp hài hoà giữa việc thầy kiểm tra, trò tự kiểm tra đánh giá bài mình và kiểm tra đánh giá bài
bạn.
+ Việc học của học sinh:
Qua điều tra và trực tiếp giảng dạy ở lớp 3, chúng tôi thấy học sinh làm tốt các bài tập về phép nhân trong sách giáo khoa.
* Hạn chế:
+ Việc dạy của giáo viên:
Theo ý kiến nhận xét của một số giáo viên đang trực tiếp giảng dạy thì do khối lượng bài tập nhiều mà thời gian một tiết học chỉ có hạn (35 phút) nên học sinh trung bình hoặc sức học chưa được vững không làm hết bài.
- Bên cạnh một số đông giáo viên đã tích cực thay đổi phương pháp dạy học, không tránh khỏi một số đồng chí còn làm việc rất khuôn mẫu theo sách hướng dẫn, sách giáo khoa.
+ Việc học của học sinh:
- Bắt nguồn từ phía sách giáo khoa, với nội dung bài tập và mức độ yêu cầu chưa cao nên việc khắc sâu, củng cố các dạng toán chưa thật hiệu quả, tư duy của học sinh chưa được chú ý đúng mức. Bởi thế các em sẽ gặp nhiều khó khăn khi gặp các bài tập nâng cao hoặc những bài toán diễn ra trong thực tế hàng ngày.
III. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến.
III.1. Nội dung giải pháp tác giả đề xuất.
* Giải pháp 1: Dạy học theo nhóm nhỏ.
Ưu điểm của cách dạy học theo nhóm:
- Góp phần rèn luyện tinh thần tự chủ của học sinh: Một số hoạt động có thể giao cho học sinh tự làm, giáo viên không cần can thiệp trực tiếp vào.
- Tạo ra cơ hội để học sinh hoà nhập cộng đồng. Học sinh tập lắng nghe ý kiến của người khác, tập lắng nghe ý kiến của chính mình.
- Tạo ra cơ hội để học sinh nâng cao năng lực hợp tác, học sinh tự xác định trách nhiệm cá nhân đối với công việc chung của nhóm, nhận xét đánh giá ý kiến của bạn điều chỉnh suy nghĩ của mình.
- Tạo điều kiện để học sinh phát huy hết khả năng của mình theo hướng phân hoá trong dạy học.
1.1. Cấu tạo của một tiết học theo nhóm như sau:
* Làm việc chung cả lớp:
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.
- Tổ chức các nhóm: chia thành từng nhóm nhỏ (4 - 6 học sinh)
- Giao nhiệm vụ: giáo viên giao việc cho mỗi nhóm và nhóm trưởng, cần nói rõ yêu cầu về nội dung công việc và thời gian thực hiện.
* Làm việc theo nhóm:
- Phân công trong nhóm: Mỗi nhóm bầu ra một nhóm trưởng, ngoài ra có thể bầu thư kí.
- Các nhóm làm việc: Nhóm trưởng điều hành nhóm hoạt động, mỗi thành viên trong nhóm đều phải hoạt động, không được ỷ lại vào nhóm trưởng và các thành viên khác trong nhóm, cần làm việc, suy nghĩ độc lập trước khi trao đổi, giúp đỡ lẫn nhau, giáo viên theo dõi giúp đỡ các nhóm trưởng và giải quyết vướng mắc của các nhóm nếu có.
- Cử đại diện (hoặc phân công) trình bày kết quả làm việc theo nhóm.
* Tổng kết trước lớp:
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
1.2. Một số cách chia nhóm:
Nhìn sơ bộ có thể chia nhóm theo cách ngẫu nhiên hoặc có chủ định, có thể giao cùng một nhiệm vụ cho các nhóm hoặc giao nhiệm vụ khác nhau cho mỗi nhóm.
Xét theo các tiêu chí chia nhóm này, trong tiết học Toán ở Tiểu học có thể có một số cách chia nhóm như sau:
- Chia ngẫu nhiên: chia ngẫu nhiên thường được tiến hành khi không cần sự phân biệt giữa các đối tượng học sinh, mọi học sinh đều phải hoạt động để cùng giải quyết vấn đề, cùng chiếm lĩnh tri thức, nhiệm vụ được giao khác nhau không nhiều về nội dung, ít có sự chênh lệch về độ khó, cùng chung nhu cầu. Để không tốn thời gian vào việc chia nhóm theo tổ, chia theo bàn, có thể chia ngầu nhiên “bằng đếm vòng tròn”.
- Chẳng hạn muốn chia lớp thành bốn nhóm: Ta cho học sinh lần lượt đếm
1, 2, 3, 4 rồi lại đếm 1, 2, 3 ,4 ... lặp đi lặp lại cho đến học sinh cuối cùng. Sau đó xác định 4 nhóm là tất cả học sinh mang số 1, nhóm 2 là tất cả học sinh mang số 2, nhóm 3 là tất cả học sinh mang số 3, nhóm 4 là tất cả học sinh mang số 4.
* Chia thành các nhóm cùng trình độ:
- Chia thành các nhóm có cùng trình độ khi cần có sự phân hoá về mức độ khó-dễ của nội dung bài học, bài tập cho từng đối tượng.
- Thường chia thành 4 nhóm: Nhóm gồm các học sinh giỏi, nhóm gồm các học sinh khá, nhóm gồm các học sinh trung bình, nhóm gồm các học sinh yếu.
- Nếu sự chênh lệch về trình độ học tập giữa các nhóm là quá cao, chẳng hạn có sự khác biệt về trình độ giữa lớp này với lớp khác, khi đó sự phân chia nhóm này trở thành sự chia nhóm trong một lớp ghép. Lớp ghép là hình thức tổ chức dạy học trong đó một giáo viên cùng một lúc dạy nhiều nhóm học sinh thuộc nhiều trình độ khác nhau trong cùng một lớp học.
- Cần thận trọng khi chia thành các nhóm có cùng trình độ. Giáo viên cần thực sự nắm bắt trình độ của học sinh trong lớp để không chia sai, cần chú ý rằng trình độ có thể thay đổi theo thời gian. Sự chia sai gây ra phản tác dụng, chẳng hạn cho học sinh khá vào nhóm yếu ỷ lại không làm việc. Cần tránh tâm lý tự ti trong nhóm học sinh yếu hay tâm lý tự kiêu trong nhóm học sinh giỏi. Khi chưa tự tin về đánh giá của mình, giáo viên chỉ nên sử dụng hình thức chia này vào dạy lớp ghép hoặc thời gian hướng dẫn học sinh tự học.
- Chia thành các nhóm có đủ trình độ: Cách chia này thông thường sử dụng khi nội dung hoạt động dạy học cần có sự hỗ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn, khi tổ chức thực hành ngoài lớp học, ôn tập hoặc giải bài tập khó.
- Chia nhóm theo sở trường: cách chia này thường được tiến hành trong các buổi ngoại khoá. Mỗi nhóm gồm những học sinh có cùng một sở trường, hứng thú. Giáo viên có thể nêu tên, nêu tiêu chuẩn của thành viên và nhiệm vụ của các nhóm, rồi để các em tự xung phong vào các nhóm.Cách chia này ít được áp dụng ở Tiểu học vì sở trường hay hứng thú chưa được bộc lộ rõ ràng.
- Dạy học theo nhóm là một hình thức mới đối với đa số giáo viên. Dạy học theo nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách trao đổi những ý kiến, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm điều gì. Do vậy thành công của bài học phụ thuộc vào sự tham gia nhiệt tình của mọi thành viên.
* Giải pháp 2: Phiếu học tập Toán Tiểu học.
Phiếu học tập có thể là một phần của vở bài tập, làm riêng cho một tiết học hoặc một phần của tiết học, coi như một phương tiện tổ chức hoạt động dạy học.
- Có nhiều loại phiếu học tập như: Phiếu kiểm tra, phiếu học và phiếu thực hành.
- Nếu muốn kiểm tra thêm về lý thuyết xem học sinh có nhớ được thứ tự thực hiện các phép tính không thì có thể ghi thêm vào phiếu kiểm tra đoạn sau.
2.1. Điền vào chỗ trống:
Nếu trong biểu thức có các phép tính cộng trừ, nhân chia thì ta thực hiện các phép tính ..., rồi thực hiện các phép tính sau.
- Để tránh tình trạng học sinh “quay, cóp” bài, nếu giáo viên ra đề nhiều để khác nhau, để hai người ngồi cạnh nhau không được chép bài của nhau thì tốt.
- Nếu dùng phiếu kiểm tra, thì đầu giờ (hoặc cuối giờ) giáo viên phát phiếu cho học sinh và nêu thời gian làm bài, sau đó các em tự làm.Việc nhận xét bài làm, chấm và chữa như thế nào thì tuỳ từng trường hợp giáo viên có thể tiến hành theo các cách khác nhau (trong đó nên tăng cường việc để học sinh tự chấm bài).
- Tuy nhiên nên tránh dùng tràn lan lối kiểm tra viết bằng phiếu.Tốt nhất là nên phối hợp cân đối giữa các hình thức kiểm tra truyền thống với lối kiểm tra mới để vừa tổ chức được 100% học sinh làm việc trong kiểm tra đầu giờ, vừa rèn luyện được cho các em năng lực trình bày và diễn đạt bằng lời.
2.2. Phiếu học:
Có thể coi phiếu học là một hệ thống công việc được sắp xếp một cách khéo léo để học sinh tự làm, qua đó các em có thể tự mình tìm ra được kiến thức mới, giáo viên chỉ cần nói, hỏi hoặc dẫn rất ít.
VD. Dạy Bài 9: Bảng nhân 6, bảng chia 6 (Tiết 18- Toán 3)
Nội dung soạn phiếu học cho tiết này như sau:
Việc 1: Tính Việc 2: Suy ra
6 x 1 = 6 : 6 =
6 x 2 = 12 : 6 =
6 x 3 = 18 : 6 =
6 x 4 = 24 : 6 =
6 x 5 = 30 : 6 =
6 x 6 = 36 : 6 =
6 x 7 = 42 : 6 =
6 x 8 = 48 : 6 =
6 x 9 = 54 : 6 =
6 x 10 = 60 : 6 =
Việc 3:
2.3. Chép lại bảng chia 6 ở việc 2 bằng bút chì (miệng đọc thầm):
------------------------------- ------------------------------------
------------------------------- ------------------------------------
------------------------------- ------------------------------------
------------------------------- ------------------------------------
------------------------------- ------------------------------------
------------------------------- ------------------------------------
2.4. Tô lại bằng bút mực (miệng đọc thầm):
Giải thích:
+ Vì học sinh đã học bài giảng nhân 6 rồi nên mọi học sinh đều phải tự làm việc 1 mà giáo viên không phải giúp đỡ.
+ Sau khi học sinh đã hoàn tất việc 1 thì chuyển sang việc 2.Tuỳ trình độ học sinh ở từng lớp mà cách xử lý của giáo viên có thể khác nhau.
- Lớp có nhiều học sinh khá giỏi thì trong việc 2 không cần phải ghi số 2 ở đằng sau 12 : 6 =....., chỉ cần các mũi tên (gợi ý từ phép nhân suy ra kết quả phép chia) là đủ các em hiểu rồi. Nói cách khác có thể để trống toàn bộ các kết quả của bảng chia 6, học sinh tự tìm tất cả.
- Lớp có nhiều học sinh trung bình thì giáo viên nên làm mẫu một trường hợp, chẳng hạn 12 : 6 = ? có thể làm như sau:
- Giáo viên chỉ vào 6 x 2 = 12 nêu “Trong phép nhân này 12 là tích, 2 và 6 là thừa số.Ta đã biết là: Khi lấy tích chia cho thừa số này thì được thừa số kia, nên 6 x 2 = 12 ta suy ra 12 : 6 = 2. Do đó từ một phép nhân với 6 ta suy ra được kết quả của một phép chia 6”. Sau đó để học sinh tự làm 9 trường hợp còn lại.
- Lớp có nhiều học sinh yếu thì sau khi hướng dẫn mẫu như trên, giáo viên có thể đàm thoại để hướng dẫn nhanh một trường hợp nữa. Sau đó để học sinh tự làm 8 trường hợp còn lại.
- Như vậy là tuỳ trình độ học sinh yếu thì sau khi hướng dẫn một chút là các em có thể tự làm được việc 2. Điều đó cũng có nghĩa là mọi học sinh tự lập được bảng chia cho 6.
- Phiếu luyện tập là hệ thống bài tập được viết sẵn trên giấy có chỗ trống để học sinh rèn luyện kỹ năng vận dụng các kiến thức mới vừa học được. Phiếu này tương ứng với các bước luyện tập củng cố trong cách dạy truyền thống.
- Có thể coi các cuốn vở bài tập in sẵn hiện nay là các phiếu luyện tập đã được đóng thành sách.
-Ví dụ về phiếu luyện tập của tiết “Bảng nhân 6, bảng chia 6” (Tiết 19 – Toán 3)
2.5. Đếm thêm 6 từ 6 đến 60 và điền vào ô trống:
2. Tính :
| 6 x 4 = 6 x 6 = 6 x 8 = | 6 x 1 = 6 x 3 = 6 x 5 = | 6 x 9 = 6 x 2 = 6 x 7 = | 6 x 10 = 6 x 0 = 0 x 6 = |
2.6. Tính đố:
Mỗi thùng dầu có 6 lít dầu. Hỏi 5 thùng như thế có bao nhiêu lít dầu?
- Ghi chú: Đối với những nơi không có điều kiện kinh tế để in (hoặc photocopy) phiếu học tập cho từng học sinh có thể khắc phục bằng cách:
- Giáo viên ghi lần lượt các nội dung công việc lên bảng để học sinh làm vào vở, bảng con hoặc nháp.
- Giáo viên lần lượt nêu nội dung công việc cho học sinh nghe rồi các em làm vào vở (hoặc nháp, bảng con) thay vì làm vào phiếu.
Cả hai cách làm trên đều đỡ tốn kém tiền bạc nhưng lại tốn thời gian.
* Giải pháp 3: Trò chơi Toán học.
3.1. Quan niệm về trò chơi Toán học:
Trò chơi Toán học là trò chơi trong đó chứa một yếu tố Toán học nào đó.Trò chơi có thể phân loại theo số người tham gia: Trò chơi tập thể, trò chơi cá nhân.Trò chơi có thể là trò chơi vận động, có thể là trò chơi trí tuệ, cũng có thể kết hợp vận động với trí tuệ.
- Vì là một trò chơi, trò chơi Toán học mang đầy đủ các đặc điểm của trò chơi, nhưng trò chơi toán học khác với trò chơi “phi toán” ở chỗ ít nhiều phải chứa trong nó một yếu tố kiến thức Toán học nào đó.Trò chơi Toán học cũng có thể là trò chơi tập thể hoặc trò chơi cá nhân, thường thuộc loại kết hợp cả vận động lẫn trí tuệ. Ở lớp dưới trò chơi Toán học nặng về vân động, càng lên cao trí tuệ càng phải cao hơn.
- Trong nhà trường, trò chơi Toán học có thể tổ chức như một hoạt động dạy học Toán. Cơ sở tâm lí và sinh lí khẳng định hoạt động dạy học Toán dưới dạng trò chơi Toán học rất phù hợp với lứa tuổi tiểu học.Thực tế dũng cho thấy hình thức tổ chức trò chơi Toán học dễ được học sinh hưởng ứng và tích cực tham gia.
Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung, trò chơi Toán học có thể là:
- Trò chơi nhằm dẫn dắt hình thành tri thức mới.
- Trò chơi nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kỹ năng.
- Trò chơi nhằm ôn tập, rèn luyện tư duy trong giờ ngoại khoá.
- Nếu phân loại theo các mạch kiến thức của Toán Tiểu học, ta có thể nói tới chẳng hạn:
- Trò chơi về tính toán.
- Trò chơi về vẽ hình, cắt và ghép hình.
- Trò chơi về giải toán.
3.2. Chuẩn bị và tổ chức một trò chơi Toán học:
- Căn cứ nội dung kiến thức, trình độ học sinh và điều kiện hiện có, giáo viên lựa chọn trò chơi để đưa vào dạy học như một hoạt động dạy học toán. Giáo viên phải đặc biệt chú ý xây dựng được rõ mục đích học tập của trò chơi. Các bước chuẩn bị và tiến hành trò chơi như sau:
- Chuẩn bị: giáo viên chuẩn bị các dụng cụ cần thiết, có thể giao cho học sinh chuẩn bị các dụng cụ dễ kiếm.
- Công bố luật chơi: giáo viên giải thích cách chơi, trong đó nêu rõ những ai chơi trực tiếp, ai cổ động ai đánh giá (người đánh giá không nhất định là giáo viên), chơi như thế nào, đánh giá như thế nào, chơi bao nhiêu lâu, phần thưởng là gì. Chú ý chọn hình thức ngắn gọn, rõ ràng để giải thích cách chơi. Không nên giải thích dài dòng khiến học sinh mất hứng thú ngay từ khi chưa tham gia trò chơi.
- Tiến hành: Dù trực tiếp hay gián tiếp, tất cả các học sinh của lớp phải tham gia vào trò chơi, giáo viên theo dõi và tháo gỡ vướng mắc nếu cần.
- Nhận xét: giáo viên nhận xét, khuyến khích học sinh.
3.3. Ví dụ về trò chơi Toán học:
- Tên trò chơi: Đua ngựa
- Mục đích: rèn luyện khả năng tư duy linh hoạt, củng cố phép chia có dư.
- Chuẩn bị: Một băng giấy dài 25 ô, hai ngựa khác màu của bộ cá ngựa, hoặc hai vật tương đương cho ngựa.
- Cách chơi: Mỗi lần hai người chơi. Mỗi người chọn một ngựa. Hai ngựa đứng ở hai đầu cùng tiến vào ở giữa. Bốc thăm để chọn người đi trước. Mỗi lần đi (chỉ được tiến không được lùi) ít nhất 1 ô, nhiều nhất 3 ô. Hai bên tính toán sao cho đến lượt đi mà đối phương không còn ô để tiến nữa thì mình thắng cuộc.
* Giải pháp 4: Dạy học kết hợp với các phương tiện thiết bị dạy học.
4.1. Đồ dùng dạy học toán:
Đồ dùng dạy học Toán là bất cứ dụng cụ nào (đồ vật, mô hình, tranh ảnh, hay hình vẽ) được sử dụng trong dạy học Toán. Như vậy đồ dùng hay dạy học Toán hết sức đa dạng: từ những đồ vật đơn giản nhất như là que tính cho đến những dụng cụ đắt tiền như máy vi tính đều có thể coi là đồ dùng dạy học Toán.
Tư duy của học sinh Tiểu học thường bắt đầu từ những biểu tượng cụ thể, nên kiến thức toán Tiểu học chủ yếu hình thành bằng con đường thực nghiệm. Chính điều này dẫn đến xu thế dạy học Toán theo cách tổ chức cho học sinh: hoạt động bằng tay với các đồ vật – hoạt động quan sát với các mô hình, hình vẽ – hoạt động chơi với lời nói – hoạt động trí óc.Trong rất nhiều trường hợp khó có thể tổ chức hoạt động mà không có đồ dùng dạy học Toán.
Có thể phân loại đồ dùng dạy học thành hai loại: đồ dùng biểu diễn và đồ dùng thực hành.
Đồ dùng biểu diễn là đồ dùng mà giáo viên sử dụng để giới thiệu đối tượng hay tính chất, hoặc để làm mẫu các thao tác khi hương dẫn cách sử dụng đồ dùng thực hành cho học sinh.
Đồ dùng thực hành là đồ dùng dành cho học sinh, thường là dụng cụ để học sinh thao tác bằng tay vừa nhằm hình thành và củng cố kiến thức mới, vừa nhằm rèn luyện sự khéo léo, phát huy trí tưởng tượng không gian, phát triển thẩm mỹ.
Có thể phân loại đồ dùng thành: đồ dùng có sẵn và đồ dùng tự làm.
Đồ dùng dạy học có sẵn là đồ dùng do các cơ sở sản xuất chế tạo sẵn để trang bị hàng loạt cho các nhà trường.Giáo viên phải nắm được danh mục đồ dùng dạy học của trường mình để có thể lấy ra sử dụng trong năm học, tránh hiện tượng đồ dùng dạy học thì nằm trong kho mà học sinh vẫn phải học chay.
Đồ dùng dạy học tự làm là đồ dùng mà giáo viên, học sinh tự làm ra theo mẫu thiết kế sẵn hoặc theo mẫu tự thiết kế.
Chúng ta khuyến khích phát triển cả hai loại đồ dùng dạy học này. Những đồ dùng phổ dụng, có thể sử dụng để dạy học nhiều đơn vị kiến thức, thì sản xuất hàng loạt. Những đồ dùng phục vụ dạy học ở những bài, những tiết cụ thể, thì giáo viên, học sinh cố gắng tự làm. Khi tự tìm tòi thiết kế đồ dùng dạy học, giáo viên hiểu sâu kiến thức hơn. Đây chính là lí do quan trọng để nhà trường khuyến khích và hỗ trợ việc tự làm đồ dùng dạy học.
4.2. Một số chú ý về sử dụng đồ dùng dạy học:
- Đồ dùng dạy học toán phải được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách. Đúng chỗ ở đây là phải biết sử dụng đồ dùng nào vào dạy học kiến thức nào. Điều này phù hợp với yêu cầu: đồ dùng phản ánh được lôgíc của kiến thức.Ví dụ: compa – dụng cụ vẽ đường tròn – không thể đem để hình thành biểu tượng đầu tiên về hình tròn vì hình tròn là một phần mặt phẳng nằm bên trong đường tròn.Trong trường hợp này một miếng bìa hình tròn đồng màu là đồ dùng dạy học thích hợp hơn cả.
- Một biểu tượng cụ thể của sử dụng đúng lúc đúng chỗ là: Khi cần sử dụng thì sử dụng, khi không cần thì không sử dụng đồ dùng dạy học. Môn toán có một nhiệm vụ trọng đại là rèn luyện tư duy trừu tượng cho học sinh, cho nên lạm dụng việc sử dụng đồ dùng dạy học cũng làm hạn chế kết quả học không kém gì dạy “chạy”.
- Để biết sử dụng đồ dùng dạy học đúng lúc, đúng chỗ giáo viên phải nắm chắc kiến thức. Thông qua việc sử dụng đồ dùng dạy học có thể đánh giá được giáo viên có vững về kiến thức của tiết dạy hay không.
- Đúng cách ở đây tạm hiểu là thực hiện đúng các thao tác theo quy trình khi sử dụng đồ dùng dạy học. Ví dụ, khi cho học sinh quan sát miếng bìa hình tròn thì phải từ từ di chuyển hình tròn để tất cả học sinh trong lớp được nhìn thấy một cách trực diện (tránh góc nhìn bé làm cho hình tròn trở thành hình elíp), khi dùng thước kẻ đoạn thẳng thì tay trái giữ thước, tay phải cầm thước kẻ sát dọc theo cạnh trên của thước, khi vẽ hình tròn thì phải vẽ tâm trước, đặt đầu nhọn của compa vào tâm, tay trái giữ cạnh có đầu nhọn, tay phải cầm cạnh kia của compa và quay, khi cân thì đặt vật cần cân lên một đĩa cân trước, rồi đặt dần các quả cân lên đĩa cân kia, từ lớn đến bé, cho đến khi thăng bằng...
III.2. Tính mới, tính sáng tạo.
- Tính mới, tính sáng tạo:
+ Tính mới:
Trong nghiên cứu của mình để rèn kĩ năng thực hành phép nhân cho học sinh đạt hiệu quả, tôi đã đưa ra bốn giải pháp cơ bản: dạy học theo nhóm nhỏ; sử dụng phiếu học tập tiểu học; trò chơi toán học; dạy học kết hợp với các phương tiện thiết bị dạy học. Ở mỗi giải pháp tôi đều mạnh dạn đưa ra cách thức thực hiện với những phương pháp, hình thức tổ chức mới khác với phương pháp dạy học truyền thống. Ví dụ: Với giải pháp thứ nhất dạy học theo nhóm tôi đưa ra cấu tạo của một tiết học theo nhóm và một số cách chia nhóm phù hợp với mỗi dạng bài nhằm giúp HS tìm kiếm và diễn đạt ý tưởng tạo cho các em mạnh dạn tự tin trong học tập.
+ Tính sáng tạo: Học sinh lớp Ba tư duy chưa nhanh, suy nghĩ để tìm ra kiến thức còn hạn chế. Bởi vậy trong khi dạy Toán muốn đạt hiệu quả, giáo viên nên chuẩn bị phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy hết khả năng của học sinh. Ví dụ hoạt động dạy học Toán dưới dạng trò chơi Toán học rất phù hợp với lứa tuổi tiểu học.Thực tế cũng cho thấy hình thức tổ chức trò chơi Toán học dễ được học sinh hưởng ứng và tích cực tham gia.
III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến.
Khả năng áp dụng và nhân rộng là tương đối cao vì phương pháp này có thể áp dụng trong đa số các tiết toán lớp 3 ở các trường Tiểu học trong cả nước.
III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến.
a. Hiệu quả kinh tế:
- Nghiên cứu tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học hình thành pép nhân cho lớp 3 giúp GV và HS tiết kiệm được rất nhiều thời gian. Ngoài ra còn làm thay đổi nhận thức của GV, HS. Tiết học Toán không còn trở nên áp lực với cả GV và HS mà đã trở thành một tiết học luôn được chờ đợi với những điều mới mẻ, sáng tạo.
b. Hiệu quả về mặt xã hội:
Với việc tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Toán lớp 3 ở trường Tiểu học hiện nay áp dụng phương pháp dạy học tích cực để rèn kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh đã đem lại cho chúng tôi một kết quả học tập của học sinh rất khả quan. Với giáo viên, họ đã có trong tay những giải pháp khi dạy từng dạng bài và không còn lúng túng khi giảng dạy cho học sinh. Với học sinh, các em ngày càng hứng thú, say mê tìm ra kiến thức của mỗi bài học hơn, không còn coi môn Toán là một môn học khó. Cũng thông qua đề tài này mà tổ chuyên môn trường chúng tôi đã có những buổi họp chuyên môn hữu ích, họ không chỉ sôi nổi thảo luận khi dạy về môn toán nói riêng này mà họ còn mạnh dạn đề ra các biện pháp dạy học phù hợp với các phân môn khác.
Vĩnh Hải, ngày 22 tháng 11 năm 2025
| CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN | TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Đỗ Thị Lễ |